Hiển thị các bài đăng có nhãn Giáo dục. Hiển thị tất cả bài đăng
Hiển thị các bài đăng có nhãn Giáo dục. Hiển thị tất cả bài đăng

Thứ Tư, 24 tháng 8, 2011

Bác Hồ với công tác thanh niên

Trong suốt cuộc đời của mình, Bác Hồ luôn quan tâm đến các thế hệ người Việt Nam, trong đó, Bác luôn giành nhiều tình cảm yêu thương sâu sắc đối với thế hệ trẻ, đặc biệt là lực lượng thanh niên.

Ngay từ năm 1925, khi Người đang hoạt động ở nước ngoài tìm đường cứu nước, Người đã nhận thấy thanh niên là lực lượng quan trọng trong sự nghiệp giải phóng dân tộc. Trong tác phẩm “Bản án chế độ Thực dân Pháp”, Người viết “Hỡi Đông Dương đáng thương hại, Người sẽ chết mất nếu đám thanh niên già cỗi của Người không sớm hồi sinh”.
 
Người lập ra Hội Việt Nam Cách mạng thanh niên vào tháng 6/1925, để động viên, giác ngộ và tổ chức thanh niên vào công cuộc giải phóng dân tộc.
 
Sau khi Đảng Cộng sản Việt Nam ra đời, công tác thanh niên được Người coi trọng và xem là nhiệm vụ cần thiết. Để huy động lực lượng thanh niên vào sự nghiệp giải phóng dân tộc, Hội nghị BCHTW Đảng đã quyết định lấy ngày 26/3/1931 là ngày thành lập Đoàn. Kể từ đó, thanh niên được tập hợp trong tổ chức của mình để đấu tranh và trưởng thành qua các cao trào 1930 - 1931, 1936 - 1939, 1939 - 1945. 
 
Hồ Chủ tịch tại Đại hội Thanh niên xung phong chống Mỹ, cứu nước (1967)
 
Đặc biệt, sau khi nước Việt Nam Dân chủ Cộng hoà ra đời, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã thấy được sức mạnh của tuổi trẻ trong sự nghiệp xây dựng đất nước. Trong thư gửi Ngành giáo dục nhân ngày khai trường năm 1945, Hồ Chủ tịch đã tin tưởng, gửi gắm niềm tin vào thế hệ trẻ, rằng tương lai của non sông Việt Nam phụ thuộc vào “một phần lớn ở công học tập của các em”.
 
Vào tháng tám năm 1947, trong thư gửi thanh niên, Người lại khẳng định “thanh niên là người chủ tương lai của nước nhà… Nước nhà thịnh hay suy, yếu hay mạnh một phần lớn là do các thanh niên”, “thanh niên ta rất hăng hái.
 
Ta biết tập hợp lòng hăng hái đó lại và dìu dắt đúng đắn thì thanh niên sẽ thành một lực lượng rất mạnh mẽ”. Chính sự tin tưởng của Người mà các thế hệ thanh niên đã anh dũng chiến đấu lập nên chiến thắng Việt Bắc, Biên giới Thu - Đông và đỉnh cao là chiến thắng Điện Biên Phủ năm 1954 “lừng lẫy năm châu, chấn động địa cầu”.
 
Sau khi Hiệp định Giơnevơ được kí kết, miền Bắc nước ta chuyển sang giai đoạn Cách mạng XHCN, nhằm để động viên kịp thời và khuyến khích lực lượng thanh niên tham gia lao động sản xuất, xây dựng xã hội mới, Chủ tịch Hồ Chí Minh không ngừng quan tâm, giáo dục lực lượng thanh niên. Trong bài nói chuyện tại đại hội lần thứ III của Đoàn thanh niên Lao động Việt Nam ngày (24/3/1961), Bác dặn: “Thanh niên ta phải cố gắng học…
 
Muốn xây dựng CNXH thì nhất định phải có học thức… Thanh niên ta cần hiểu rằng: bất kì công việc gì mà ra sức khắc phục khó khăn, hoàn thành tốt nhiệm vụ đều là vẻ vang, đều là anh hùng”. Về phong trào thanh niên, Bác lưu ý: “Cần phải liên tục và có nội dung thiết thực, không nên hình thức mà phải nói được, làm được”.
 
Thực hiện và làm theo Bác Hồ dạy, tầng tầng, lớp lớp thanh niên không quản ngại khó khăn ra sức xây dựng miền Bắc XHCN và anh dũng chiến đấu ở tiền tuyến lớn miền Nam với tinh thần của người thanh niên Lí Tự Trọng “Con đường của thanh niên chỉ có thể là con đường Cách mạng và không thể con đường nào khác”.
 
Bác luôn coi thanh niên là lực lượng rường cột của nước nhà; là một trong những nhân tố quan trọng quyết định tương lai, vận mệnh của dân tộc. Vì vậy, trước lúc Người đi xa, trong di chúc Bác đã dùng những lời lẽ tâm huyết đối với lực lượng thanh niên “Đoàn viên và thanh niên ta nói chung là tốt, mọi việc đều hăng hái xung phong, không ngại khó khăn, có chí tiến thủ” và Bác cũng căn dặn: “Đảng cần phải chăm lo giáo dục đào tạo Cách mạng cho họ, đào tạo họ thành những người kế thừa xây dựng chủ nghĩa xã hội vừa “hồng” vừa “chuyên”. Bồi dưỡng thế hệ Cách mạng cho đời sau là một việc rất quan trọng và cần thiết”.
 
Có thể nói, tư tưởng của Chủ tịch Hồ Chí Minh về thanh niên và công tác giáo dục thanh niên là tài sản vô cùng quý báu của dân tộc ta. Nhìn lại những lời dạy của Người giúp chúng ta có suy nghĩ và hành động đúng hơn về công tác thanh niên và giáo dục thanh niên trong thời kì mới, đặc biệt là trong năm thanh niên 2011.
 

Thứ Ba, 23 tháng 8, 2011

Cách mạng Tháng Tám 1945 và những bài học còn nguyên giá trị

Kỷ niệm 66 năm Cách mạng tháng Tám và Quốc khánh 2/9:
Cách mạng Tháng Tám 1945 và những bài học còn nguyên giá trị
66 năm trôi qua, thắng lợi và ý nghĩa lịch sử của cuộc Cách mạng Tháng Tám năm 1945 vẫn là một sự kiện diệu kỳ trong lịch sử đấu tranh dựng nước và giữ nước vĩ đại của dân tộc...Diễn ra và giành thắng lợi trong một thời gian ngắn, nhưng Cách mạng Tháng Tám năm 1945 đã để lại nhiều bài học quý báu cho Đảng và nhân dân ta trong hành trình hướng đến tương lai, kiên định mục tiêu: độc lập dân tộc gắn liền với CNXH, vì một nước Việt Nam dân giàu, nước mạnh, dân chủ, công bằng, văn minh.

Chuẩn bị chớp thời cơ, tạo thế và lực

Chiến tranh thế giới thứ II bùng nổ (3-9-1939), tình hình quốc tế và trong nước biến chuyển biến hết sức mau lẹ và từ tháng 11-1939, Đảng ta đã kịp thời điều chỉnh đường lối chiến lược và sách lược cho phù hợp với tình hình. Ngày 28-1-1941, Nguyễn Ái Quốc - Hồ Chí Minh trở về nước, kịp thời chuẩn bị, tổ chức Hội nghị BCH Trung ương Đảng lần thứ 8 (họp từ ngày 10 đến 19-5-1941). Hội nghị đã dự báo một cách chính xác về cuộc chiến tranh thế giới thứ 2 cùng hệ lụy của nó: " Nếu cuộc đế quốc chiến tranh lần trước đẻ ra Liên Xô, một nước xã hội chủ nghĩa thì cuộc đế quốc chiến tranh lần này sẽ đẻ ra nhiều nước xã hội chủ nghĩa, sẽ do đó cách mạng nhiều nước thành công”[1]. Trên cơ sở phân tích tình hình quốc tế và trong nước, Hội nghị quyết định hoàn chỉnh chủ trương chuyển hướng chiến lược cách mạng, và khẳng định: “Cuộc cách mạng Đông Dương trong giai đoạn hiện tại là một cuộc cách mạng dân tộc giải phóng", vì vậy "trong lúc này quyền lợi của bộ phận của giai cấp phải đặt dưới sự sinh tử, tồn vong của quốc gia, của dân tộc”.

Để phát huy tối đa sức mạnh của chủ nghĩa yêu nước, của tinh thần dân tộc, thì một trong những quyết định quan trọng nhất, trực tiếp liên quan đến việc củng cố khối đoàn kết dân tộc, chuẩn bị lực lượng cho cuộc vùng lên tự giải phóng, chính là quyết định thành lập mặt trận Việt Nam Độc lập Đồng Minh (Việt Minh). Tuyên ngôn của Việt Minh tuyên bố: "Việt Minh chủ trương liên hiệp hết thảy các giới đồng bào yêu nước, không phân biệt giàu nghèo, già trẻ, gái trai, không phân biệt tôn giáo và xu hướng chính trị, đặng cùng nhau mưu cuộc dân tộc giải phóng và sinh tồn"[2]. Sự ra đời, phát triển của mặt trận Việt Minh không chỉ trở thành hạt nhân quy tụ sức mạnh đoàn kết dân tộc, mà còn đánh dấu một bước ngoặt trong đường lối lãnh đạo cách mạng của Đảng, nhằm mở rộng và củng cố khối đại đoàn kết dân tộc, quy tụ và phát huy cao độ nguồn sức mạnh nội lực của toàn dân tộc cho một cuộc vùng lên vĩ đại.

Không chỉ biến khối sức mạnh đại đoàn kết của dân tộc trong Mặt trận Việt Minh thành một tổ chức có sức chiến đấu cao, Đảng ta, với sự phân tích chính xác, khoa học mâu thuẫn trong hàng ngũ kẻ thù, đã dự báo sớm xảy ra cuộc đảo chính của Nhật ở Đông Dương. Trên cơ sở đó, kịp thời vạch ra kế hoạch hành động khi dự báo về cuộc đảo chính của Nhật ở Đông Dương: “Bóc trần mưu gian của đế quốc Nhật! Thống nhất hành động đánh đổ thù chung!” (bài viết của Tổng Bí thư Trường Chinh, đăng trên Báo Cờ Giải phóng, số 3, ngày 15-2-1944). Vì thế, ngay trong đêm Nhật - Pháp bắn nhau (9-3-1945), Hội nghị Thường vụ mở rộng, dưới sự chủ trì của Tổng Bí thư Trường Chinh, đã họp và ra ngay Chỉ thị “Nhật - Pháp bắn nhau và hành động của chúng ta” vào ngày 12-3-1945. Bản Chỉ thị được cấp tốc in hàng nghìn bản và theo những đường dây bí mật chuyển đi các nơi. Trong Bản Chỉ thị đó, Ban Chấp hành Trung ương, ngoài việc xác định kẻ thù mới và đề ra khẩu hiệu đấu tranh mới, còn dự báo khả năng để nhân dân ta vùng dậy giành chính quyền trên cả nước: Một là khi quân Đồng minh vào Đông Dương đánh Nhật  và hai là khi Nhật đầu hàng Đồng minh.

Tổng khởi nghĩa tháng 8-1945, giành chính quyền

Từ năm 1945, quân đội Xô Viết ngày càng giành được nhiều thắng lợi, giải phóng hàng loạt nước ở Châu Âu và tiến thẳng vào sào huyệt của phát xít Đức ở Béclin…và ngày 8-8-1945, Liên Xô tuyên chiến với phát xít Nhật, đẩy quân đội Nhật vào tình thế thất bại. Ngày 13-8-1945, Nhật Hoàng đã chấp nhận đầu hàng Đồng Minh. Tin đó đến với lãnh tụ Hồ Chí Minh qua bản tin đài BBC mà Người nghe được ở lán Nà Lừa, Tân Trào (Tuyên Quang). Lúc này, thời cơ có một không hai đã đến, vì vậy, dù đang ốm rất nặng, Người vẫn nói với đồng chí Võ Nguyên Giáp rằng: “Dù phải đốt cháy cả dãy Trường Sơn cũng phải giành cho được tự do độc lập!”. Không chậm trễ, Hội nghị toàn quốc của Đảng họp đã quyết định thông qua kế hoạch Tổng khởi nghĩa giành chính quyền trên cả nước. Trung ương Đảng và Tổng bộ Việt Minh thành lập Ủy ban khởi nghĩa toàn quốc, ra Quân lệnh số 1 và khẳng định: “Giờ tổng khởi nghĩa đã đánh! Cơ hội có một cho quân, dân Việt Nam cùng giành lấy quyền độc lập của nước nhà… Chúng ta phải hành động cho nhanh, với một tinh thần vô cùng quả cảm, vô cùng thận trọng!... Cuộc thắng lợi hoàn toàn nhất định sẽ về ta!”.

Theo chỉ thị của Hồ Chí Minh, ngày 16-8, Quốc dân Đại hội chính thức khai mạc, tượng trưng cho ý chí, nguyện vọng và khối đại đoàn kết toàn dân tộc đã nhất trí thông qua đề nghị Tổng khởi nghĩa của Mặt trận Việt Minh, và thành lập Ủy ban giải phóng dân tộc. Sáng ngày 17-8, các thành viên trong Uỷ ban giải phóng dân tộc vừa được Đại hội bầu đã ra mắt quốc dân và làm lễ tuyên thệ trước sân đình Tân Trào. Thay mặt Uỷ ban, hướng lên Quốc kỳ, Chủ tịch Hồ Chí Minh trân trọng đọc lời tuyên thệ.

Trong khi đó, ở Hà Nội, Sài Gòn và nhiều tỉnh khác, cán bộ Đảng và Việt Minh chưa thể nhận được mệnh lệnh khởi nghĩa, nhưng căn cứ vào các chỉ thị trước đó của Đảng, trên cơ sở phân tích cụ thể tình hình địa phương, tuyệt đại đa số cán bộ Đảng và Việt Minh cơ sở đã mau chóng tự quyết định khởi nghĩa giành chính quyền, không bỏ lỡ thời cơ.

Cũng trong ngày 17-8, cả Hà Nội tưng bừng khí thế sục sôi khởi nghĩa. Sáng ngày 19-8, theo lời hiệu triệu của Việt Minh, với rừng cờ đỏ sao vàng, nhân dân Hà Nội xuống đường, tiến thẳng về trung tâm Nhà hát thành phố để dự mittinh. Sau loạt súng chào cờ và bài Tiến quân ca, đại biểu Ủỷ ban quân sự cách mạng đọc lời hiệu triệu của Việt Minh, biến cuộc mittinh trở thành cuộc biểu tình vũ trang tiến vào chiếm Phủ khâm sứ, trại lính bảo an và các cơ sở của chính phủ bù nhìn,v.v.. Ngày 19-8 trở thành mốc son lịch sử thắng lợi của cuộc Tổng khởi nghĩa Cách mạng Tháng Tám ở Thủ đô Hà Nội.

Từ Hà Nội, làn sóng cách mạng tiếp tục toả đi khắp nơi, nhân dân cả nước đã nhất tề vùng dậy đấu tranh giành chính quyền. Cùng ngày, ở các tỉnh lỵ Yên Bái, Phúc Yên, Thái Bình, Thanh Hóa, Khánh Hòa đã liên tiếp khởi nghĩa thành công. Từ ngày 20/8 - 28/8, trên khắp các tỉnh, thành phố khác trong cả nước, cuộc Tổng khởi nghĩa đã giành thắng lợi (Huế đã khởi nghĩa ngày 23-8, Sài Gòn khởi nghĩa ngày 25-8). Ngày 30-8, Hoàng đế Bảo Đại- vua cuối cùng nhà Nguyễn đã tuyên bố thoái vị, trao lại ấn kiếm cho cách mạng, kết thúc sự trị vì của triều đại phong kiến này.

Tổng khởi nghĩa đã thành công. Chuẩn bị tốt và chớp đúng thời cơ, dưới sự lãnh đạo của Đảng do Hồ Chí Minh đứng đầu, trong vòng khoảng hai tuần lễ, làn sóng biểu tình chính trị mạnh mẽ của hàng triệu quần chúng, có sự hỗ trợ của lực lượng vũ trang cách mạng đã nhanh chóng lật đổ chính quyền tay sai thân Nhật, lập ra chính quyền cách mạng.

Ngày 2-9-1945 tại Quảng trường Ba Đình - Hà Nội, Chủ tịch Chính phủ lâm thời Hồ Chí Minh đã đọc bản Tuyên ngôn độc lập, khai sinh nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa và khẳng định: "Nước Việt Nam có quyền hưởng tự do và độc lập, và sự thật đã thành một nước tự do, độc lập. Toàn thể dân tộc Việt Nam quyết đem tất cả tinh thần và lực lượng, tính mạng và của cải để giữ vững quyền tự do độc lập ấy". Một kỷ nguyên mới-kỷ nguyên độc lập dân tộc gắn liền với chủ nghĩa xã hội của nước Việt Nam mới bắt đầu! Ba ngày sau đó, ngày 5-9-1945, với tư cách là chủ nhà, Chính phủ Lâm thời nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa đã đón tiếp quân Đồng minh vào tước khí giới quân Nhật trên đất nước ta.

Những bài học còn nguyên giá trị

66 năm trôi qua, thắng lợi và ý nghĩa lịch sử của cuộc Cách mạng Tháng Tám năm 1945 vẫn là một sự kiện diệu kỳ trong lịch sử đấu tranh dựng nước và giữ nước vĩ đại của dân tộc. Khát vọng độc lập, tự do, cùng với một đường lối chính trị đúng đắn và sức mạnh của khối đại đoàn kết toàn dân dưới sự lãnh đạo của Đảng và Hồ Chí Minh đã tạo ra xung lực hồi sinh mạnh mẽ, góp phần làm nên thành công của cuộc cách mạng giải phóng dân tộc, kiến lập ra một Nhà nước Việt Nam mới. Diễn ra và giành thắng lợi trong một thời gian ngắn, nhưng Cách mạng Tháng Tám năm 1945 đã để lại nhiều bài học quý báu cho Đảng và nhân dân ta trong hành trình hướng đến tương lai, kiên định mục tiêu: độc lập dân tộc gắn với CNXH, vì một nước Việt Nam dân giàu, nước mạnh, dân chủ, công bằng, văn minh. Cùng với thời gian, những bài học đó vẫn còn nguyên giá trị thời sự:

Bài học về nắm bắt thời cơ

Trên cơ sở đường lối đúng đắn, luôn theo dõi, bám sát những biến đổi của tình hình thế giới, trong nước, chủ động, kịp thời chuyển hướng chỉ đạo chiến lược cách mạng, chuẩn bị đón thời cơ, lãnh đạo và chỉ đạo quần chúng nhân dân tận dụng thời cơ thuận lợi của tình hình trong nước và quốc tế để giành thắng lợi là bài học nổi bật nhất về sự lãnh đạo của Đảng ta trong Cách mạng Tháng Tám. Trong bối cảnh đổi mới và hội nhập, Đảng không những phải phát huy những kinh nghiệm và bài học quý báu đó, mà còn phải phải luôn xây dựng và chỉnh đốn, luôn trong sạch, vững mạnh, đổi mới và sáng tạo trong lãnh đạo, chỉ đạo, để xứng đáng với vai trò tiền phong - lãnh đạo - quyết định - không thể thay thế của Đảng trong sự phát triển đi lên của dân tộc.

Bài học về xây dựng, củng cố và phát huy sức mạnh khối đại đoàn kết toàn dân

Thắng lợi của Tổng khởi nghĩa tháng Tám 1945 là một minh chứng hùng hồn trong thực tiễn, khẳng định vai trò và sức mạnh của quần chúng nhân dân trong cách mạng, của khối đại đoàn kết: "Đoàn kết, đoàn kết, đại đoàn kết. Thành công, thành công, đại thành công", với các hình thức vận động, tập hợp và quy tụ quần chúng phù hợp, hoạt động hiệu quả. Đặc biệt, các hình thức Mặt trận, trong đó Mặt trận Việt Minh "coi quyền lợi dân tộc cao hơn hết thảy, Việt Minh sẵn sàng giơ tay đón tiếp những cá nhân hay đoàn thể, không cứ theo chủ nghĩa quốc tế hay quốc gia, miễn thành thực muốn đánh đuổi Nhật, Pháp để dựng lên một nước Việt Nam tự do độc lập”[3], với các tổ chức quần chúng như Phụ nữ cứu quốc, Thanh niên cứu quốc, Nông dân cứu quốc,v.v.. đã không chỉ quy tụ, mà còn là nơi các tầng lớp nhân dân tham gia tham đóng góp sức mình vào công việc của của nước nhà. Với ý nghĩa đó, Mặt trận Tổ quốc Việt Nam ngày nay phải tăng cường khối đại đoàn kết dân tộc, phát huy quyền làm chủ của nhân dân, phải đổi mới phương thức hoạt động, đa dạng hóa các hình thức tổ chức, để phát huy vai trò, nhất là giám sát và phản biện xã hội, góp phần xây dựng và bảo vệ Tổ quốc.

Bài học về phát huy sức mạnh dân tộc với sức mạnh thời đại

Trong mọi hoàn cảnh, kiên định mục tiêu độc lập dân tộc và CNXH, trên tinh thần “dĩ bất biến, ứng vạn biến”, nắm vững thời và thế, phát huy sức mạnh tổng lực của dân tộc kết hợp với sức mạnh thời đại đã được Đảng vận dụng linh hoạt để đưa đất nước tiến lên, đổi mới và hội nhập. Đó chính là nắm bắt xu thế phát triển của thời đại, kịp thời quyết định đổi mới, đổi mới tư duy, đổi mới mạnh mẽ về kinh tế trên cơ sở đổi mới từng bước về chính trị vừa tranh thủ và phát huy sức mạnh nội lực, vừa tranh thủ, tận dụng những cơ hội của thế giới, của thời đại mang lại, để không chỉ đưa đất nước chuyển mình theo hướng tích cực, dần vượt thoát khỏi khủng hoảng kinh tế - xã hội, kinh tế phát triển nhanh, đời sống nhân dân được cải thiện rõ rệt,v.v..mà còn góp phần nâng cao vị thế của đất nước trong khu vực và trên trường quốc tế./.

TS. Thanh Mai

[1] Đảng Cộng sản Việt Nam, Văn kiện Đảng Toàn tập, Nxb. CTQG, H, 2000, T.7, tr.100
[2] Đảng Cộng sản Việt Nam, Văn kiện Đảng Toàn tập, Nxb. CTQG, H, 2000, T.7, tr.461
[3] Đảng Cộng sản Việt Nam, Văn kiện Đảng Toàn tập, Nxb. CTQG, H, 2000, T.7, tr.461
[4] Hồ Chí Minh, Toàn tập, Nxb. CTQG, H, 1995, t.4, tr.56-57

Theo Tạp chí Tuyên giáo

Chia sẻ