Thứ Năm, 25 tháng 8, 2011

Đại tướng Võ Nguyên Giáp, những điều ít biết


Thuở ấu thơ, vườn nhà, vườn hàng xóm chính là chốn thiên đường của các thú chơi trốn tìm, bắt tổ chim, dàn trận đánh giặc giả của cậu bé Võ Nguyên Giáp cùng lũ trẻ học chữ Nho. Có lần cậu bị bố mắng, thậm chí còn bị đòn roi phải chui xuống gầm bàn thờ xin tha tội.

Thời niên thiếu của đại tướng Võ Nguyên Giáp

Quê tôi từ xa xưa đã lưu truyền trong dân gian câu dân ca "Tháng bảy nước chảy lên bờ". Tháng bảy âm lịch là mùa lũ lụt quê tôi. Cậu bé Võ Nguyên Giáp cất tiếng khóc chào đời đúng mùa mưa lũ vào ngày 2 tháng 7 năm Tân Hợi, dương lịch là ngày 25/8/1911, trong một cái chòi cao cất tạm dưới gốc cây mít cổ thụ sau vườn nhà để tránh mưa to nước lớn.

Cậu bé Giáp sinh trưởng trong một dòng họ Võ rất lớn, có tiếng tăm tại làng An Xá, xã Lộc Thủy (Lệ Thủy, Quảng Bình). Gia đình cậu có bảy anh chị em nhưng người anh cả và chị cả mất sớm nên còn lại năm: 3 người con gái và 2 người con trai là Võ Nguyên Giáp và Võ Thuần Nho - người sau này là Thứ trưởng Bộ Giáo dục.

Làng An Xá những ngày nông nhàn, có nghề thủ công truyền thống dệt chiếu cói nổi tiếng khắp vùng, dân gian đã có câu ca "Chiếu cói An Xá, nón lá Quy Hậu". Cũng như bao làng quê khác, An Xá xanh mướt với bốn mùa với cam, quít, mít, ổi... Thấp thoáng trong những vườn cây ăn quả ấy là những ngôi nhà tranh vách đất, đầy ắp tiếng cười của con trẻ.

Nhà cậu bé Giáp cũng đầy quả ngọt, hoa thơm, đặc biệt là cây mít cổ thụ, đào tiên và hai cây khế ngọt. Ngày ngày cậu cùng lũ trẻ làng trèo cây hái quả. Mùa nào thức ấy, mẹ hái quả trong vườn đem bán ở chợ Thùi, chợ Tréo.



Tướng Giáp trong một lần về thăm nhà tại làng An Xá. 

Thuở ấu thơ, vườn nhà, vườn hàng xóm chính là chốn thiên đường của các thú chơi trốn tìm, bắt tổ chim, trèo cây lấy quả, dàn trận đánh giặc giả của cậu bé Giáp cùng lũ trẻ học chữ Nho với cậu. Và có lần cậu đã bị thầy (bố) mắng, thậm chí còn bị đòn roi phải chui xuống gầm bàn thờ xin tha tội.

Hai cụ thân sinh của cậu Giáp là cụ Võ Quang Nghiêm và cụ Nguyễn Thị Kiên. Là nhà nho có uy tín trong vùng, cụ Nghiêm dạy chữ Hán nhưng khi phong trào học chữ quốc ngữ phát triển, cụ chuyển sang dạy chữ quốc ngữ cho thanh thiếu niên trong làng và bốc thuốc chữa bệnh cứu người. Cụ Nghiêm tuy không phải là tiên chỉ của làng nhưng mỗi lần làng có việc tế lễ, đều mời cụ làm chủ tế.

Khi cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp bùng nổ, do phải thu xếp việc nhà, chưa kịp tản cư cùng gia đình, cụ Nghiêm bị giặc Pháp bắt đưa về giam ở Huế. Cụ bị chúng tra tấn và chết ngay trong nhà lao Huế. Sau ngày đất nước thống nhất, con cháu đã tìm thấy và bốc mộ cụ đưa về an táng tại nghĩa trang liệt sĩ huyện Lệ Thủy. Khác với cụ ông rất nghiêm khắc trong việc giáo dục con cái, giữ gìn nề nếp gia phong, cụ bà lại rất mực yêu thương, luôn đỡ lời cho con mỗi khi bị cụ ông mắng mỏ.

Gia đình cụ Nghiêm thuộc diện nghèo trong làng, quanh năm phải vay nợ nặng lãi của các nhà giàu như nhà Khóa Uy, một Hoa kiều giàu sụ ở làng Tuy Lộc kề bên. Cậu bé Giáp đã có lần theo mẹ chèo thuyền chở thóc đi trả nợ. Suốt buổi cậu phải ngồi dưới thuyền, còn mẹ cậu phải đội thóc chạy lên chạy xuống bến giữa trời nắng chang chang.

Tuy còn nhỏ tuổi, nhưng đêm đêm cậu bé Giáp đã được mẹ kể về tướng quân Tôn Thất Thuyết phò vua Hàm Nghi hạ Chiếu cần vương kêu gọi các sĩ phu và dân chúng đứng lên chống Pháp bảo vệ non sông, còn cha nói về phong trào đánh Pháp qua bài vè "Thất thủ kinh đô".

Những tháng ngày theo lũ trẻ làng đánh khăng, đánh đáo, bơi lội bì bõm dưới dòng Kiến Giang qua đi, cậu bé Giáp trở thành học trò trường làng. Cậu cùng người em trai Võ Thuần Nho và dăm ba đứa bạn ngồi trên chiếu ê a: "Thiên - trời, địa - đất, cử - cất, tồn - còn, tử - con, tôn - cháu…".

Cậu nhớ mãi những điều răn dạy trong sách "Ấu học tân thư": "Tổ ta là Hồng Bàng/Triệu Thủy, Kinh Dương Vương/Sự tích thời Bắc thuộc/Mối nhục cũ khó quên", đặc biệt là câu: "Ong tuy độc không đốt trong đàn/Hổ tuy ác không ăn đồng loại". Những điều này đã có ảnh hưởng sâu sắc trong cả cuộc đời của tướng Giáp.

Lớn lên, xa lũ trẻ học trường làng, cậu lên học trường tổng ở làng Tuy Lộc, nơi có chợ Hôm nổi tiếng buôn bán tập nập. Ngày hai buổi sáng đi, chiều về, trưa ở lại cậu cùng người cháu họ ra chợ mua bánh ăn trừ bữa.

Ở chợ Hôm có ty rượu do Sica - một tên thực dân Pháp khét tiếng quỷ quyệt làm chủ. Để mua vui cho bọn Pháp và lý trưởng, chánh tổng vào những ngày tết Tây, quốc khánh của “nước mẹ đại Pháp”, thầy giáo trường tổng thường bắt bọn trẻ hát. Cậu Giáp thấy khó chịu khi thầy giáo khúm núm trước tên chủ ty rượu Pháp, mặc dù cậu được thầy quý mến vì học giỏi.

Học hết lớp đồng ấu, muốn học tiếp cậu bé Giáp phải rời trường tổng vào học lớp 3 trường huyện. Trường huyện cách nhà cậu khoảng 4-5 cây số, từ nhà lên trường huyện phải đi đò. Cậu Giáp đã nhiều lần theo mẹ đi chợ huyện bằng đò dọc. Cậu vui lắm, cảnh vật ở đây tuyệt đẹp. Đi giữa dòng Kiến Giang trong xanh, đôi bờ lớp tre xanh tỏa bóng, những vườn cau, vườn chuối trĩu quả, xen giữa là mái nhà tranh giản dị.

Lần này cậu cũng theo mẹ đi đò dọc, nhưng không phải đi chợ huyện như mọi ngày mà đi trọ học. Cậu Giáp buồn lắm, bởi vì cậu ngày ngày phải xa mẹ. Đò đã qua mũi Viết Thượng Phong, đò cập bến chợ huyện. Phố xá đông vui, sầm uất, tấp nập người qua lại nhưng lòng cậu vẫn nặng trĩu… Mẹ dẫn cậu đến nhà một người thân xin ở trọ. Trước lúc ra về, mẹ âu yếm bảo: "Con ở lại đây, ngoan, học giỏi, mai mốt thím (mẹ) lên đón con".

Cậu Giáp không cầm được nước mắt òa khóc nức nở túm áo mẹ nằng nặc đòi theo về. Cậu chạy thẳng xuống đò. Mẹ đành cho cậu về theo. Về đến nhà, cậu không dám vào nhà ngay sợ thầy mắng. Cậu lủi thủi một mình sau vườn chờ mẹ vào thưa trước với thầy. Không thấy thầy la rầy gì lại thân mật gọi cậu vào thế rồi hôm sau cậu thuận lên trường trọ học. Học lớp 3 trường huyện cậu nổi tiếng học giỏi nhất lớp. Tổng kết cuối năm cậu đứng đầu.

Học sinh, người dân Quảng Bình đón ông về thăm quê. 

Học xong lớp 3 cậu phải xuống thị xã Đồng Hới học tiếp. Đồng Hới thuộc tỉnh lỵ Quảng Bình, cách làng An Xá của cậu trên 20 cây số, nằm bên bờ Nhật Lệ trong xanh với thành cổ bao quanh từ thời Gia Long và được xây lại bằng gạch thời Minh Mạng.

Những năm học ở thị xã Đồng Hới, cậu Giáp ở trọ nhà người quen của cụ Nghiêm. Cậu được gia chủ quý mến coi như con cháu trong nhà, không lấy tiền trọ, được học với nhà sư phạm có tiếng, thầy giáo Đào Duy Anh, người mà sau này trở thành một học giả, một nhà nghiên cứu văn hóa, giáo sư sử học, một nhà văn có tài.

Cậu Giáp người nhỏ bé, nhưng đẹp trai, khôi ngô tuấn tú, nước da trắng như con gái thành phố. Cậu được ngồi bàn đầu với các bạn gái, nên bị bạn bè trêu chọc. Hai năm học ở tiểu học Đồng Hới, hàng tháng cậu luôn đứng đầu lớp. Tại kỳ thi tốt nghiệp bậc sơ học, cậu đỗ đầu toàn tỉnh. Về làng cậu được dân làng nể trọng, gia đình rất tự hào về cậu.

Năm 13 tuổi cậu Giáp lên đường vào Huế ứng thi. Ngày ấy học trò các tỉnh Trung kỳ muốn học lên bậc trung học phải thi vào trường quốc học Huế. Ngày thi đã đến, nhưng chủ quan cho mình là thủ khoa của tỉnh, cậu tin chắc mình sẽ đỗ. Tuy nhiên, lần thi tuyển lần ấy cậu bị trượt. Cậu buồn bã trở về quê trong niềm tiếc nuối, nhưng rồi cậu tự nhủ thua keo này ta bày keo khác, ngày đêm đèn sách chờ kỳ thi tới.

Mùa hè năm sau, 1925, cụ Nghiêm thân chinh đưa cậu vào Huế, tìm chỗ trọ học để ôn thi. Rút kinh nghiệm ngã ngựa lần trước, kỳ thi lần này cậu làm bài vở cẩn thận hơn, kết quả cậu đỗ vào loại khá.

Buổi đầu theo cách mạng
Là một học sinh xuất sắc của trường Quốc học Huế, tháng nào anh Giáp cũng đứng đầu lớp. Có một tháng bỗng dưng anh xuống đứng thứ nhì, bạn bè, thầy giáo rất ngạc nhiên. Nhưng đối với Võ Nguyên Giáp, giờ đây việc học hành không phải là điều mà anh quan tâm duy nhất.

Anh bước vào cổng trường Quốc học Huế đúng vào lúc diễn ra phong trào đấu tranh của nông dân, các tầng lớp trí thức, học sinh Trung kỳ đòi giảm sưu cao, thuế nặng, đòi nhà cầm quyền Pháp trả tự do cho nhà chí sĩ cách mạng Phan Bội Châu, đòi được để tang nhà yêu nước cách mạng Phan Chu Trinh. Võ Nguyên Giáp nhanh chóng hòa nhập ngay vào phong trào đấu tranh đó.

Tại đây, Võ Nguyên Giáp có nhiều người bạn hoạt động trong phong trào học sinh như các anh Nguyễn Khoa Văn (Hải Triều), Nguyễn Thúc Hào... Đặc biệt là Nguyễn Chí Diểu, người bạn lớn hơn anh 3 tuổi, gia đình nông dân nghèo, quê ở Phú Mậu, Thừa Thiên. Hai người tuy mới quen nhưng rất thân thiết, không chỉ vì chung cảnh ngộ học trò nghèo mà giữa 2 người cùng chung một chí hướng.

Nguyễn Chí Diểu thường chia sẻ với Võ Nguyên Giáp về sự bất bình trước nền giáo dục thực dân nhằm tạo ra những tên tay sai đắc lực phục vụ cho "mẫu quốc". Cũng trong trường Quốc học Huế, học sinh Giáp còn được các thầy đầy tâm huyết dạy dỗ, như thầy Võ Liêm Sơn, thầy Cao Xuân Huy, thầy Đặng Thai Mai...

Tháng 4/1927 tại trường Quốc học Huế diễn ra cuộc bãi khóa rầm rộ với quy mô lớn. Nguyễn Chí Diểu bị tên giám thị Pháp chú ý, coi là kẻ cầm đầu những cuộc đấu tranh bãi khóa ở trường. Nhân một hôm thi môn toán, tên giám thị gian giảo này đã vu cho Diểu "quay cóp" bài của bạn và tức khắc đuổi Diểu ra khỏi trường.

Tấm ảnh chụp Võ Nguyên Giáp khi bị chính quyền thực dân Pháp bắt, bỏ tù khi 19 tuổi. 

Võ Nguyên Giáp và các bạn cùng chí hướng bất bình trước việc vu oan, giá họa đã làm đơn yêu cầu nhà trường hủy quyết định đuổi học Diểu. Nhưng đơn đã bị nhà trường trả lại. Ngay sau đó, Võ Nguyên Giáp liền bàn với Nguyễn Khoa Văn tiếp tục tổ chức bãi khóa để phản đối việc Diểu bị đuổi học. Cuộc bãi khóa của học sinh Trường Quốc học Huế lan rộng ra khắp các trường ở Huế và phát triển thành cuộc tổng bãi khóa.

Trước tình hình đó nhà cầm quyền Pháp tại Huế được sự chỉ đạo trực tiếp của Chánh mật thám Trung Kỳ Leon Sogny, Hiệu trưởng và Tổng giám thị Trường Quốc học Huế lúc đó là Bourotte và Harter huy động toàn bộ lực lượng giám sát mọi hoạt động của học sinh trong trường. Nhiều nam nữ sinh Huế bị bắt bớ giam cầm. Nhưng do áp lực của công luận, sau một tuần nhà đương cục Pháp phải nhượng bộ thả một số học sinh bị bắt nhưng kiên quyết đuổi một số người bị chúng coi là kẻ cầm đầu, trong đó có các anh Nguyễn Chí Diểu, Võ Nguyên Giáp, Nguyễn Khoa Văn...

Lúc này Võ Nguyên Giáp không trở về quê ngay, anh lang thang vào Quảng Nam, Đà Nẵng, Bình Định… vừa thăm thú bạn bè, vừa nghe ngóng tình hình. Trong thời gian ở Quảng Nam anh đến viếng nhà thờ cụ Phan Châu Trinh mới được lập ở Đà Nẵng, rồi trở về quê trong tâm trạng bế tắc.

Bỗng một hôm Nguyễn Chí Diểu lặn lội từ Huế về làng An Xá tìm gặp Võ Nguyên Giáp. Diểu mang theo một tập tài liệu về "Liên đoàn các dân tộc bị áp bức trên thế giới" và một số văn kiện cuộc họp của "Việt Nam Thanh niên Cách mạng đồng chí hội" ở Quảng Châu, trong đó có 2 bài phát biểu của lãnh tụ Nguyễn Ái Quốc. Anh Giáp đọc rất xúc động.

Nguyễn Chí Diểu cho Giáp biết sau khi bị đuổi học Diểu đã tham gia Tân Việt cách mạng Đảng hiện có cơ sở ở Huế, đồng thời cho Giáp xem chương trình, điều lệ của Tân Việt Cách mạng Đảng. Sau đó, anh Giáp được kết nạp vào Đảng Tân Việt.

Mùa hè năm 1928, Võ Nguyên Giáp trở lại Huế. Anh bước vào đời của một chiến sĩ cách mạng. Tại Huế, Nguyễn Chí Diểu giới thiệu anh Giáp đến làm việc ở Quan Hải tùng thư, một nhà xuất bản do Tổng bộ Tân Việt chủ trương, trụ sở đặt ở phố Đông Sa. Sáng lập viên là Đào Duy Anh.

Võ Nguyên Giáp là thư ký của nhà xuất bản, anh sinh hoạt trong một tiểu tổ bí mật của Đảng Tân Việt do Đào Duy Anh làm tổ trưởng. Tại đây Võ Nguyên Giáp có điều kiện tiếp xúc với những học thuyết kinh tế, xã hội, dân tộc, cách mạng. Đặc biệt là cuốn "Bản án chế độ thực dân Pháp" và báo "Người cùng khổ" (Le Paria) từ Pháp gửi về.

Đại tướng Võ Nguyên Giáp và người vợ Nguyễn Thị Quang Thái. 

Từ năm 1929, Võ Nguyên Giáp trở thành một trong những thành viên trong nhóm hạt nhân của Đảng Tân Việt. Anh tích cực vận động cho tổ chức này gia nhập Đảng Cộng sản. Với tư cách là Tổng biên tập báo Tiếng dân, Đào Duy Anh giới thiệu Võ Nguyên Giáp với cụ Huỳnh Thúc Kháng.

Võ Nguyên Giáp làm biên tập viên cho báo Tiếng dân, tờ báo đầu tiên ở Trung Kỳ có xu hướng tiến bộ do cụ Huỳnh Thúc Kháng chủ trương ra mắt bạn đọc vào tháng 7/1928. Qua tờ báo, Võ Nguyên Giáp viết bài tuyên truyền cho chủ nghĩa Mác. Vì vậy, chính quyền thực dân ở đây ngày đêm theo dõi, giám sát từng hoạt động của anh.

Xô viết Nghệ - Tĩnh nổ ra, thực dân Pháp ra sức khủng bố trắng. Ngày 25/10/1930, lúc vừa tròn 19 tuổi, Võ Nguyên Giáp bị chính quyền thực dân bắt giam cùng một số người, trong đó có thầy Đặng Thai Mai, nữ sinh Nguyễn Thị Quang Thái, người sau đó ít lâu trở thành người vợ thân yêu của Võ Nguyên Giáp (em nhà cách mạng Nguyễn Thị Minh Khai) và nhiều bạn học Trường Quốc học Huế. Anh bị kết án hai năm tù giam tại nhà lao Thừa Phú.

Không tra khảo được gì, chúng liền nhốt anh vào xà lim suốt 15 ngày. Cuối năm 1931, do Hội Cứu tế Đỏ Pháp đấu tranh, đòi thả chính trị phạm, chính quyền thực dân Pháp ở Đông Dương phải nhượng bộ tha một số tù chính trị. Thầy Đặng Thai Mai, Võ Nguyên Giáp, Quang Thái và một số anh em khác được thả. Võ Nguyên Giáp bị đưa về quản thúc ở quê nhà An Xá, hàng tháng phải trình diện với quan huyện.

Ít lâu sau, anh tìm cách ra Vinh (Nghệ An) để thực hiện chí hướng của mình. Ở Vinh, anh tìm đến thầy Đặng Thai Mai và được thầy giúp đỡ tìm kiếm việc làm tạm thời. Năm 1932, thầy Đặng Thai Mai chuyển ra dạy học ở Hà Nội, Võ Nguyên Giáp cũng ra theo thầy.

Rời ghế nhà trường từ năm Thành chung thứ hai, giờ đây tại Hà Nội, Võ Nguyên Giáp quyết định dành 10 tháng để học, dự thi lấy bằng tú tài phần nhất với tư cách thí sinh tự do và đã đỗ hạng ưu. Từ đây Võ Nguyên Giáp bắt đầu dạy học tại trường Thăng Long cùng với thầy Đặng Thai Mai. Học trò của thầy Mai, thầy Giáp sau này nhiều người đỗ đạt cao, trở thành những nhà trí thức có uy tín và có người trở thành cán bộ cấp cao của Đảng và Nhà nước.

Năm 1936, ở Pháp, Mặt trận Bình dân lên nắm quyền, buộc chính quyền thuộc địa ở Đông Dương phải thực hiện một số cải cách dân chủ. Võ Nguyên Giáp đã tham gia nhiều cuộc đấu tranh công khai của Đảng. Trên lĩnh vực văn học nghệ thuật, anh viết cho nhiều tờ báo của Đảng bằng tiếng Việt và tiếng Pháp và trở thành Chủ tịch Ủy ban Báo chí Bắc Kỳ. Sức làm việc của Võ Nguyên Giáp rất kỳ lạ, anh có thể viết suốt 24 giờ liền cho toàn bộ một số báo “Le Travail” để hôm sau đưa đến nhà in, kịp thời phát hành.

Cuối năm 1939, Chính phủ bình dân Pháp bị đánh đổ, nước Pháp nói riêng và thế giới nói chung đang đứng trước nguy cơ đe dọa của chủ nghĩa phát xít. Ở Đông Dương, nhà cầm quyền thực dân đàn áp phong trào cách mạng được dịp trỗi dậy. Ngày đêm chúng lùng sục, bắt bớ tra tấn nhiều chiến sĩ cộng sản. Chính vào lúc này, Hoàng Văn Thụ, Ủy viên Thường vụ Đảng Cộng Sản Đông Dương, khuyên Võ Nguyên Giáp nên ra nước ngoài, nơi anh có dịp gặp lãnh tụ Nguyễn Ái Quốc, người mà anh từng ngưỡng mộ.

Trong thời gian dạy học ở trường Thăng Long, Võ Nguyên Giáp xây dựng gia đình với người em ruột của nữ chiến sĩ cộng sản Nguyễn Thị Minh Khai là Nguyễn Thị Quang Thái, người mà anh quen trên chuyến xe lửa Vinh - Huế. Gặp Quang Thái lần đầu, anh Giáp có ngay cảm tình đặc biệt bởi dáng vẻ hiền dịu nhưng không kém phần kiên nghị, bất khuất, đôi mắt thông minh.

Ngày Quang Thái vào học trường Đồng Khánh, Huế, tình yêu giữa hai người nẩy nở và kể từ đó, người thiếu nữ ấy đã bước vào đời anh. Và họ gặp nhau trong nhà tù đế quốc. Cũng chính trong thời gian ở tù, Võ Nguyên Giáp càng hiểu Quang Thái hơn.

Mùa hè 1940, anh lên đường ra nước ngoài để lại người bạn đời, người đồng chí, Nguyễn Thị Quang Thái và một cháu gái mới sinh là Võ Hồng Anh, sau này trở thành nữ tiến sĩ Vật lý xuất sắc. Chị Thái hẹn, khi con cứng cáp sẽ đi thoát ly hoạt động. Nhưng cả hai không ngờ lần chia tay này cũng là lần vĩnh biệt. Chị Thái bị giặc Pháp bắt giam và qua đời trong ngục tù.

Như một định mệnh, đến Vân Nam (Trung Quốc), Võ Nguyên Giáp được gặp ngay Nguyễn Ái Quốc, lúc này đã mang tên Hồ Chí Minh. Chỉ sau một thời gian ngắn, Nguyễn Ái Quốc đã thấy Võ Nguyên Giáp là người cần cho chặng đường cách mạng sắp tới. Người liên hệ với Đảng cộng sản Trung Quốc và cử anh đi học quân sự tại căn cứ địa Diên An.

Trên đường tới Diên An, anh được người gọi quay lại vì tình hình thế giới có nhiều thay đổi lớn. Ở châu Âu, phát xít Đức đã xâm chiếm Pháp. Nguyễn Ái Quốc nhận định tình hình Đông Dương sẽ chuyển biến nhanh, cần gấp rút trở về nước chuẩn bị đón thời cơ.

Đại tướng Võ Nguyên Giáp và Chủ tịch Hồ Chí Minh trong một chiến dịch. 

Năm 1941 đúng dịp Tết nguyên đán Tân Tỵ, Võ Nguyên Giáp cùng Hồ Chí Minh trở về Cao Bằng. Trong thời gian ở hang Pác Pó, Hồ Chí Minh tiên đoán cách mạng sẽ thành công vào năm 1945.

Tháng 12/1944, Hồ Chí Minh trao cho Võ Nguyên Giáp xây dựng Đội Việt Nam Tuyên truyền Giải phóng quân, mà như lời tiên đoán của người: "Nó là khởi điểm của giải phóng quân, nó sẽ đi suốt từ Bắc chí Nam, khắp đất nước Việt Nam". Người đã thấy trước từ đội quân nhỏ bé này, đội quân cách mạng do Võ Nguyên Giáp đứng đầu sẽ ra đời làm nhiệm vụ lịch sử chiến đấu giải phóng dân tộc...


VNExpress

Thứ Tư, 24 tháng 8, 2011

Bác Hồ với công tác thanh niên

Trong suốt cuộc đời của mình, Bác Hồ luôn quan tâm đến các thế hệ người Việt Nam, trong đó, Bác luôn giành nhiều tình cảm yêu thương sâu sắc đối với thế hệ trẻ, đặc biệt là lực lượng thanh niên.

Ngay từ năm 1925, khi Người đang hoạt động ở nước ngoài tìm đường cứu nước, Người đã nhận thấy thanh niên là lực lượng quan trọng trong sự nghiệp giải phóng dân tộc. Trong tác phẩm “Bản án chế độ Thực dân Pháp”, Người viết “Hỡi Đông Dương đáng thương hại, Người sẽ chết mất nếu đám thanh niên già cỗi của Người không sớm hồi sinh”.
 
Người lập ra Hội Việt Nam Cách mạng thanh niên vào tháng 6/1925, để động viên, giác ngộ và tổ chức thanh niên vào công cuộc giải phóng dân tộc.
 
Sau khi Đảng Cộng sản Việt Nam ra đời, công tác thanh niên được Người coi trọng và xem là nhiệm vụ cần thiết. Để huy động lực lượng thanh niên vào sự nghiệp giải phóng dân tộc, Hội nghị BCHTW Đảng đã quyết định lấy ngày 26/3/1931 là ngày thành lập Đoàn. Kể từ đó, thanh niên được tập hợp trong tổ chức của mình để đấu tranh và trưởng thành qua các cao trào 1930 - 1931, 1936 - 1939, 1939 - 1945. 
 
Hồ Chủ tịch tại Đại hội Thanh niên xung phong chống Mỹ, cứu nước (1967)
 
Đặc biệt, sau khi nước Việt Nam Dân chủ Cộng hoà ra đời, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã thấy được sức mạnh của tuổi trẻ trong sự nghiệp xây dựng đất nước. Trong thư gửi Ngành giáo dục nhân ngày khai trường năm 1945, Hồ Chủ tịch đã tin tưởng, gửi gắm niềm tin vào thế hệ trẻ, rằng tương lai của non sông Việt Nam phụ thuộc vào “một phần lớn ở công học tập của các em”.
 
Vào tháng tám năm 1947, trong thư gửi thanh niên, Người lại khẳng định “thanh niên là người chủ tương lai của nước nhà… Nước nhà thịnh hay suy, yếu hay mạnh một phần lớn là do các thanh niên”, “thanh niên ta rất hăng hái.
 
Ta biết tập hợp lòng hăng hái đó lại và dìu dắt đúng đắn thì thanh niên sẽ thành một lực lượng rất mạnh mẽ”. Chính sự tin tưởng của Người mà các thế hệ thanh niên đã anh dũng chiến đấu lập nên chiến thắng Việt Bắc, Biên giới Thu - Đông và đỉnh cao là chiến thắng Điện Biên Phủ năm 1954 “lừng lẫy năm châu, chấn động địa cầu”.
 
Sau khi Hiệp định Giơnevơ được kí kết, miền Bắc nước ta chuyển sang giai đoạn Cách mạng XHCN, nhằm để động viên kịp thời và khuyến khích lực lượng thanh niên tham gia lao động sản xuất, xây dựng xã hội mới, Chủ tịch Hồ Chí Minh không ngừng quan tâm, giáo dục lực lượng thanh niên. Trong bài nói chuyện tại đại hội lần thứ III của Đoàn thanh niên Lao động Việt Nam ngày (24/3/1961), Bác dặn: “Thanh niên ta phải cố gắng học…
 
Muốn xây dựng CNXH thì nhất định phải có học thức… Thanh niên ta cần hiểu rằng: bất kì công việc gì mà ra sức khắc phục khó khăn, hoàn thành tốt nhiệm vụ đều là vẻ vang, đều là anh hùng”. Về phong trào thanh niên, Bác lưu ý: “Cần phải liên tục và có nội dung thiết thực, không nên hình thức mà phải nói được, làm được”.
 
Thực hiện và làm theo Bác Hồ dạy, tầng tầng, lớp lớp thanh niên không quản ngại khó khăn ra sức xây dựng miền Bắc XHCN và anh dũng chiến đấu ở tiền tuyến lớn miền Nam với tinh thần của người thanh niên Lí Tự Trọng “Con đường của thanh niên chỉ có thể là con đường Cách mạng và không thể con đường nào khác”.
 
Bác luôn coi thanh niên là lực lượng rường cột của nước nhà; là một trong những nhân tố quan trọng quyết định tương lai, vận mệnh của dân tộc. Vì vậy, trước lúc Người đi xa, trong di chúc Bác đã dùng những lời lẽ tâm huyết đối với lực lượng thanh niên “Đoàn viên và thanh niên ta nói chung là tốt, mọi việc đều hăng hái xung phong, không ngại khó khăn, có chí tiến thủ” và Bác cũng căn dặn: “Đảng cần phải chăm lo giáo dục đào tạo Cách mạng cho họ, đào tạo họ thành những người kế thừa xây dựng chủ nghĩa xã hội vừa “hồng” vừa “chuyên”. Bồi dưỡng thế hệ Cách mạng cho đời sau là một việc rất quan trọng và cần thiết”.
 
Có thể nói, tư tưởng của Chủ tịch Hồ Chí Minh về thanh niên và công tác giáo dục thanh niên là tài sản vô cùng quý báu của dân tộc ta. Nhìn lại những lời dạy của Người giúp chúng ta có suy nghĩ và hành động đúng hơn về công tác thanh niên và giáo dục thanh niên trong thời kì mới, đặc biệt là trong năm thanh niên 2011.
 

Thứ Ba, 23 tháng 8, 2011

Cách mạng Tháng Tám 1945 và những bài học còn nguyên giá trị

Kỷ niệm 66 năm Cách mạng tháng Tám và Quốc khánh 2/9:
Cách mạng Tháng Tám 1945 và những bài học còn nguyên giá trị
66 năm trôi qua, thắng lợi và ý nghĩa lịch sử của cuộc Cách mạng Tháng Tám năm 1945 vẫn là một sự kiện diệu kỳ trong lịch sử đấu tranh dựng nước và giữ nước vĩ đại của dân tộc...Diễn ra và giành thắng lợi trong một thời gian ngắn, nhưng Cách mạng Tháng Tám năm 1945 đã để lại nhiều bài học quý báu cho Đảng và nhân dân ta trong hành trình hướng đến tương lai, kiên định mục tiêu: độc lập dân tộc gắn liền với CNXH, vì một nước Việt Nam dân giàu, nước mạnh, dân chủ, công bằng, văn minh.

Chuẩn bị chớp thời cơ, tạo thế và lực

Chiến tranh thế giới thứ II bùng nổ (3-9-1939), tình hình quốc tế và trong nước biến chuyển biến hết sức mau lẹ và từ tháng 11-1939, Đảng ta đã kịp thời điều chỉnh đường lối chiến lược và sách lược cho phù hợp với tình hình. Ngày 28-1-1941, Nguyễn Ái Quốc - Hồ Chí Minh trở về nước, kịp thời chuẩn bị, tổ chức Hội nghị BCH Trung ương Đảng lần thứ 8 (họp từ ngày 10 đến 19-5-1941). Hội nghị đã dự báo một cách chính xác về cuộc chiến tranh thế giới thứ 2 cùng hệ lụy của nó: " Nếu cuộc đế quốc chiến tranh lần trước đẻ ra Liên Xô, một nước xã hội chủ nghĩa thì cuộc đế quốc chiến tranh lần này sẽ đẻ ra nhiều nước xã hội chủ nghĩa, sẽ do đó cách mạng nhiều nước thành công”[1]. Trên cơ sở phân tích tình hình quốc tế và trong nước, Hội nghị quyết định hoàn chỉnh chủ trương chuyển hướng chiến lược cách mạng, và khẳng định: “Cuộc cách mạng Đông Dương trong giai đoạn hiện tại là một cuộc cách mạng dân tộc giải phóng", vì vậy "trong lúc này quyền lợi của bộ phận của giai cấp phải đặt dưới sự sinh tử, tồn vong của quốc gia, của dân tộc”.

Để phát huy tối đa sức mạnh của chủ nghĩa yêu nước, của tinh thần dân tộc, thì một trong những quyết định quan trọng nhất, trực tiếp liên quan đến việc củng cố khối đoàn kết dân tộc, chuẩn bị lực lượng cho cuộc vùng lên tự giải phóng, chính là quyết định thành lập mặt trận Việt Nam Độc lập Đồng Minh (Việt Minh). Tuyên ngôn của Việt Minh tuyên bố: "Việt Minh chủ trương liên hiệp hết thảy các giới đồng bào yêu nước, không phân biệt giàu nghèo, già trẻ, gái trai, không phân biệt tôn giáo và xu hướng chính trị, đặng cùng nhau mưu cuộc dân tộc giải phóng và sinh tồn"[2]. Sự ra đời, phát triển của mặt trận Việt Minh không chỉ trở thành hạt nhân quy tụ sức mạnh đoàn kết dân tộc, mà còn đánh dấu một bước ngoặt trong đường lối lãnh đạo cách mạng của Đảng, nhằm mở rộng và củng cố khối đại đoàn kết dân tộc, quy tụ và phát huy cao độ nguồn sức mạnh nội lực của toàn dân tộc cho một cuộc vùng lên vĩ đại.

Không chỉ biến khối sức mạnh đại đoàn kết của dân tộc trong Mặt trận Việt Minh thành một tổ chức có sức chiến đấu cao, Đảng ta, với sự phân tích chính xác, khoa học mâu thuẫn trong hàng ngũ kẻ thù, đã dự báo sớm xảy ra cuộc đảo chính của Nhật ở Đông Dương. Trên cơ sở đó, kịp thời vạch ra kế hoạch hành động khi dự báo về cuộc đảo chính của Nhật ở Đông Dương: “Bóc trần mưu gian của đế quốc Nhật! Thống nhất hành động đánh đổ thù chung!” (bài viết của Tổng Bí thư Trường Chinh, đăng trên Báo Cờ Giải phóng, số 3, ngày 15-2-1944). Vì thế, ngay trong đêm Nhật - Pháp bắn nhau (9-3-1945), Hội nghị Thường vụ mở rộng, dưới sự chủ trì của Tổng Bí thư Trường Chinh, đã họp và ra ngay Chỉ thị “Nhật - Pháp bắn nhau và hành động của chúng ta” vào ngày 12-3-1945. Bản Chỉ thị được cấp tốc in hàng nghìn bản và theo những đường dây bí mật chuyển đi các nơi. Trong Bản Chỉ thị đó, Ban Chấp hành Trung ương, ngoài việc xác định kẻ thù mới và đề ra khẩu hiệu đấu tranh mới, còn dự báo khả năng để nhân dân ta vùng dậy giành chính quyền trên cả nước: Một là khi quân Đồng minh vào Đông Dương đánh Nhật  và hai là khi Nhật đầu hàng Đồng minh.

Tổng khởi nghĩa tháng 8-1945, giành chính quyền

Từ năm 1945, quân đội Xô Viết ngày càng giành được nhiều thắng lợi, giải phóng hàng loạt nước ở Châu Âu và tiến thẳng vào sào huyệt của phát xít Đức ở Béclin…và ngày 8-8-1945, Liên Xô tuyên chiến với phát xít Nhật, đẩy quân đội Nhật vào tình thế thất bại. Ngày 13-8-1945, Nhật Hoàng đã chấp nhận đầu hàng Đồng Minh. Tin đó đến với lãnh tụ Hồ Chí Minh qua bản tin đài BBC mà Người nghe được ở lán Nà Lừa, Tân Trào (Tuyên Quang). Lúc này, thời cơ có một không hai đã đến, vì vậy, dù đang ốm rất nặng, Người vẫn nói với đồng chí Võ Nguyên Giáp rằng: “Dù phải đốt cháy cả dãy Trường Sơn cũng phải giành cho được tự do độc lập!”. Không chậm trễ, Hội nghị toàn quốc của Đảng họp đã quyết định thông qua kế hoạch Tổng khởi nghĩa giành chính quyền trên cả nước. Trung ương Đảng và Tổng bộ Việt Minh thành lập Ủy ban khởi nghĩa toàn quốc, ra Quân lệnh số 1 và khẳng định: “Giờ tổng khởi nghĩa đã đánh! Cơ hội có một cho quân, dân Việt Nam cùng giành lấy quyền độc lập của nước nhà… Chúng ta phải hành động cho nhanh, với một tinh thần vô cùng quả cảm, vô cùng thận trọng!... Cuộc thắng lợi hoàn toàn nhất định sẽ về ta!”.

Theo chỉ thị của Hồ Chí Minh, ngày 16-8, Quốc dân Đại hội chính thức khai mạc, tượng trưng cho ý chí, nguyện vọng và khối đại đoàn kết toàn dân tộc đã nhất trí thông qua đề nghị Tổng khởi nghĩa của Mặt trận Việt Minh, và thành lập Ủy ban giải phóng dân tộc. Sáng ngày 17-8, các thành viên trong Uỷ ban giải phóng dân tộc vừa được Đại hội bầu đã ra mắt quốc dân và làm lễ tuyên thệ trước sân đình Tân Trào. Thay mặt Uỷ ban, hướng lên Quốc kỳ, Chủ tịch Hồ Chí Minh trân trọng đọc lời tuyên thệ.

Trong khi đó, ở Hà Nội, Sài Gòn và nhiều tỉnh khác, cán bộ Đảng và Việt Minh chưa thể nhận được mệnh lệnh khởi nghĩa, nhưng căn cứ vào các chỉ thị trước đó của Đảng, trên cơ sở phân tích cụ thể tình hình địa phương, tuyệt đại đa số cán bộ Đảng và Việt Minh cơ sở đã mau chóng tự quyết định khởi nghĩa giành chính quyền, không bỏ lỡ thời cơ.

Cũng trong ngày 17-8, cả Hà Nội tưng bừng khí thế sục sôi khởi nghĩa. Sáng ngày 19-8, theo lời hiệu triệu của Việt Minh, với rừng cờ đỏ sao vàng, nhân dân Hà Nội xuống đường, tiến thẳng về trung tâm Nhà hát thành phố để dự mittinh. Sau loạt súng chào cờ và bài Tiến quân ca, đại biểu Ủỷ ban quân sự cách mạng đọc lời hiệu triệu của Việt Minh, biến cuộc mittinh trở thành cuộc biểu tình vũ trang tiến vào chiếm Phủ khâm sứ, trại lính bảo an và các cơ sở của chính phủ bù nhìn,v.v.. Ngày 19-8 trở thành mốc son lịch sử thắng lợi của cuộc Tổng khởi nghĩa Cách mạng Tháng Tám ở Thủ đô Hà Nội.

Từ Hà Nội, làn sóng cách mạng tiếp tục toả đi khắp nơi, nhân dân cả nước đã nhất tề vùng dậy đấu tranh giành chính quyền. Cùng ngày, ở các tỉnh lỵ Yên Bái, Phúc Yên, Thái Bình, Thanh Hóa, Khánh Hòa đã liên tiếp khởi nghĩa thành công. Từ ngày 20/8 - 28/8, trên khắp các tỉnh, thành phố khác trong cả nước, cuộc Tổng khởi nghĩa đã giành thắng lợi (Huế đã khởi nghĩa ngày 23-8, Sài Gòn khởi nghĩa ngày 25-8). Ngày 30-8, Hoàng đế Bảo Đại- vua cuối cùng nhà Nguyễn đã tuyên bố thoái vị, trao lại ấn kiếm cho cách mạng, kết thúc sự trị vì của triều đại phong kiến này.

Tổng khởi nghĩa đã thành công. Chuẩn bị tốt và chớp đúng thời cơ, dưới sự lãnh đạo của Đảng do Hồ Chí Minh đứng đầu, trong vòng khoảng hai tuần lễ, làn sóng biểu tình chính trị mạnh mẽ của hàng triệu quần chúng, có sự hỗ trợ của lực lượng vũ trang cách mạng đã nhanh chóng lật đổ chính quyền tay sai thân Nhật, lập ra chính quyền cách mạng.

Ngày 2-9-1945 tại Quảng trường Ba Đình - Hà Nội, Chủ tịch Chính phủ lâm thời Hồ Chí Minh đã đọc bản Tuyên ngôn độc lập, khai sinh nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa và khẳng định: "Nước Việt Nam có quyền hưởng tự do và độc lập, và sự thật đã thành một nước tự do, độc lập. Toàn thể dân tộc Việt Nam quyết đem tất cả tinh thần và lực lượng, tính mạng và của cải để giữ vững quyền tự do độc lập ấy". Một kỷ nguyên mới-kỷ nguyên độc lập dân tộc gắn liền với chủ nghĩa xã hội của nước Việt Nam mới bắt đầu! Ba ngày sau đó, ngày 5-9-1945, với tư cách là chủ nhà, Chính phủ Lâm thời nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa đã đón tiếp quân Đồng minh vào tước khí giới quân Nhật trên đất nước ta.

Những bài học còn nguyên giá trị

66 năm trôi qua, thắng lợi và ý nghĩa lịch sử của cuộc Cách mạng Tháng Tám năm 1945 vẫn là một sự kiện diệu kỳ trong lịch sử đấu tranh dựng nước và giữ nước vĩ đại của dân tộc. Khát vọng độc lập, tự do, cùng với một đường lối chính trị đúng đắn và sức mạnh của khối đại đoàn kết toàn dân dưới sự lãnh đạo của Đảng và Hồ Chí Minh đã tạo ra xung lực hồi sinh mạnh mẽ, góp phần làm nên thành công của cuộc cách mạng giải phóng dân tộc, kiến lập ra một Nhà nước Việt Nam mới. Diễn ra và giành thắng lợi trong một thời gian ngắn, nhưng Cách mạng Tháng Tám năm 1945 đã để lại nhiều bài học quý báu cho Đảng và nhân dân ta trong hành trình hướng đến tương lai, kiên định mục tiêu: độc lập dân tộc gắn với CNXH, vì một nước Việt Nam dân giàu, nước mạnh, dân chủ, công bằng, văn minh. Cùng với thời gian, những bài học đó vẫn còn nguyên giá trị thời sự:

Bài học về nắm bắt thời cơ

Trên cơ sở đường lối đúng đắn, luôn theo dõi, bám sát những biến đổi của tình hình thế giới, trong nước, chủ động, kịp thời chuyển hướng chỉ đạo chiến lược cách mạng, chuẩn bị đón thời cơ, lãnh đạo và chỉ đạo quần chúng nhân dân tận dụng thời cơ thuận lợi của tình hình trong nước và quốc tế để giành thắng lợi là bài học nổi bật nhất về sự lãnh đạo của Đảng ta trong Cách mạng Tháng Tám. Trong bối cảnh đổi mới và hội nhập, Đảng không những phải phát huy những kinh nghiệm và bài học quý báu đó, mà còn phải phải luôn xây dựng và chỉnh đốn, luôn trong sạch, vững mạnh, đổi mới và sáng tạo trong lãnh đạo, chỉ đạo, để xứng đáng với vai trò tiền phong - lãnh đạo - quyết định - không thể thay thế của Đảng trong sự phát triển đi lên của dân tộc.

Bài học về xây dựng, củng cố và phát huy sức mạnh khối đại đoàn kết toàn dân

Thắng lợi của Tổng khởi nghĩa tháng Tám 1945 là một minh chứng hùng hồn trong thực tiễn, khẳng định vai trò và sức mạnh của quần chúng nhân dân trong cách mạng, của khối đại đoàn kết: "Đoàn kết, đoàn kết, đại đoàn kết. Thành công, thành công, đại thành công", với các hình thức vận động, tập hợp và quy tụ quần chúng phù hợp, hoạt động hiệu quả. Đặc biệt, các hình thức Mặt trận, trong đó Mặt trận Việt Minh "coi quyền lợi dân tộc cao hơn hết thảy, Việt Minh sẵn sàng giơ tay đón tiếp những cá nhân hay đoàn thể, không cứ theo chủ nghĩa quốc tế hay quốc gia, miễn thành thực muốn đánh đuổi Nhật, Pháp để dựng lên một nước Việt Nam tự do độc lập”[3], với các tổ chức quần chúng như Phụ nữ cứu quốc, Thanh niên cứu quốc, Nông dân cứu quốc,v.v.. đã không chỉ quy tụ, mà còn là nơi các tầng lớp nhân dân tham gia tham đóng góp sức mình vào công việc của của nước nhà. Với ý nghĩa đó, Mặt trận Tổ quốc Việt Nam ngày nay phải tăng cường khối đại đoàn kết dân tộc, phát huy quyền làm chủ của nhân dân, phải đổi mới phương thức hoạt động, đa dạng hóa các hình thức tổ chức, để phát huy vai trò, nhất là giám sát và phản biện xã hội, góp phần xây dựng và bảo vệ Tổ quốc.

Bài học về phát huy sức mạnh dân tộc với sức mạnh thời đại

Trong mọi hoàn cảnh, kiên định mục tiêu độc lập dân tộc và CNXH, trên tinh thần “dĩ bất biến, ứng vạn biến”, nắm vững thời và thế, phát huy sức mạnh tổng lực của dân tộc kết hợp với sức mạnh thời đại đã được Đảng vận dụng linh hoạt để đưa đất nước tiến lên, đổi mới và hội nhập. Đó chính là nắm bắt xu thế phát triển của thời đại, kịp thời quyết định đổi mới, đổi mới tư duy, đổi mới mạnh mẽ về kinh tế trên cơ sở đổi mới từng bước về chính trị vừa tranh thủ và phát huy sức mạnh nội lực, vừa tranh thủ, tận dụng những cơ hội của thế giới, của thời đại mang lại, để không chỉ đưa đất nước chuyển mình theo hướng tích cực, dần vượt thoát khỏi khủng hoảng kinh tế - xã hội, kinh tế phát triển nhanh, đời sống nhân dân được cải thiện rõ rệt,v.v..mà còn góp phần nâng cao vị thế của đất nước trong khu vực và trên trường quốc tế./.

TS. Thanh Mai

[1] Đảng Cộng sản Việt Nam, Văn kiện Đảng Toàn tập, Nxb. CTQG, H, 2000, T.7, tr.100
[2] Đảng Cộng sản Việt Nam, Văn kiện Đảng Toàn tập, Nxb. CTQG, H, 2000, T.7, tr.461
[3] Đảng Cộng sản Việt Nam, Văn kiện Đảng Toàn tập, Nxb. CTQG, H, 2000, T.7, tr.461
[4] Hồ Chí Minh, Toàn tập, Nxb. CTQG, H, 1995, t.4, tr.56-57

Theo Tạp chí Tuyên giáo

Chia sẻ